Trong Rô-ma 1:16-26, tại sao Phao-lô lại “Amen” khi đang nói về tội lỗi con người?

Trong phần khởi đầu của thư gửi cho tín hữu thành Rô-ma, Phao-lô đã rất nhanh chóng để nói về Phúc Âm của Con một đức Chúa Trời là Đấng đã được hứa qua các nhà tiên tri mà nay đã được tỏ ra trên đất trong thể xác (1:2, 3). Cũng bởi Đấng đó mà Phao-lô hết lòng phụng sự Đức Chúa Trời qua sự ra giảng Phúc Âm cho mọi người nhờ đó mà được cứu (1:16).

Nov 24, 2025

Trong phần khởi đầu của thư gửi cho tín hữu thành Rô-ma, Phao-lô đã rất nhanh chóng để nói về Phúc Âm của Con một đức Chúa Trời là Đấng đã được hứa qua các nhà tiên tri mà nay đã được tỏ ra trên đất trong thể xác (1:2, 3). Cũng bởi Đấng đó mà Phao-lô hết lòng phụng sự Đức Chúa Trời qua sự ra giảng Phúc Âm cho mọi người nhờ đó mà được cứu (1:16).

Nhưng sau khi bày tỏ về tâm tình của ông với những người tại thành Rô-ma, ông bắt đầu nói về bản chất cứu rỗi của Phúc Âm là bởi quyền năng của Đức Chúa Trời đối với mọi người tin, cụ thể ở đây là người Do Thái và Người Hy Lạp. Nhờ cách trình thuật mà Phao-lô đã nêu ra trong câu 16, chúng ta dần như hiểu được đây là bức thư gửi đến một Hội Thánh có hai nhóm đối tượng khác nhau, và ông đều gửi cho cả hai đối tượng đó để giải quyết vấn đề về Phúc Âm giữa họ.

Ông bắt đầu với bản chất công chính của Chúa và ngay sau đó ông tiếp tục với sự thịnh nộ của Ngài trên sự bất chính của loài người. Thật không khó để nhận thấy rằng Phao-lô đã rất nhanh chóng và thẳng thắn nói về thực trạng tội lỗi của con người, mà về bối cảnh, chúng ta hiểu rằng sự phạm tội đó liên quan trực tiếp đến những người mà ông đang viết thư cho. 

Rô-ma 1:17

Vì trong Phúc Âm ấy sự công chính của Đức Chúa Trời được tỏ ra từ đức tin đến đức tin như Kinh Thánh chép: “Này, người công chính sẽ sống bởi đức tin.”

Ông đã đặt một nền tảng chắc chắn cho Phúc Âm là dựa trên sự công chính của Đức Chúa trời, hầu cho không một ai có thể chống lại, hay có thể tìm một phương cách nào khác để có thể tự làm ra sự cứu rỗi cho riêng mình. Từ sự công chính đó, ông dẫn độc giả đi đến một phản ứng của Chúa đối với bất kỳ ai bất chính – đối lập lại với bản chất công chính của Ngài. 

Rô-ma 1:18

Vì cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời đã bộc lộ từ trời nghịch lại mọi hình thức không tôn kính Đức Chúa Trời và bất chính của những người lấy bất chính áp chế sự thật.

Dựa vào ‘cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời’, Phao-lô đã phơi bày bản chất tội lỗi của con người qua ‘sự không tôn kính Đức Chúa Trời của họ’ cũng như cách ‘họ lấy sự bất chính mà áp chế sự thật’ mà chính Đức Chúa Trời đã bày tỏ về Ngài (1:20). Sự bày tỏ ấy không có chút che khuất nào. Loài người, họ biết tất cả mọi thứ về Ngài, họ đã được chiêm ngưỡng về tạo vật của Ngài, là điều mà nhờ đó họ sẽ kinh nghiệm được quyền năng vĩnh cửu của bản chất thiên thượng của Ngài. Thế nhưng, cũng chính họ, là những tạo vật được tạo ra để có cơ hội chiêm ngưỡng những điều bày tỏ về Đấng Thánh đã tạo ra họ, đã khước từ sự thật mà đáng ra họ phải tin cậy và nhờ đó mà họ sẽ thờ phượng Đấng Sáng Tạo ra mình.

Tội lỗi sinh ra tội lỗi, họ không chỉ dừng lại ở việc khước từ Đấng Cao Cả với Quyền năng sáng tạo ấy mà họ lại tự cho họ quyền được sáng tạo riêng. Họ tự tưởng tượng và để tạo ra những thứ mà họ cho là ‘thần xứng đáng’ để thờ phượng. Thay vì tôn vinh và chúc tán Đấng Sáng Tạo, họ đã lấy tạo vật mà tôn lên ngang hàng với Đấng Tạo Dựng. Họ tự cho họ là khôn ngoan và thông thái hơn cả, họ đã đã hạ thấp sự cao cả vĩnh cửu vượt trội và siêu việt của Đức Chúa Trời để xem Ngài như là hình dạng của loài người bất chính đầy tội lỗi cùng với những tạo vật khác như: chim, thú, các loài bò sát.

Không tốn nhiều giấy bút ở phần rất mở đầu của mình, Phao-lô đã bày tỏ sự tội lỗi của con người trong văn bản của mình. Ông cho chúng ta nhìn thấy được sự cứng lòng của loài người và họ không còn gì để bào chữa về sự bất khiết và sự phản bội của họ với Đấng Tạo hoá mà họ đã làm ra.

Rô-ma 1:20

Vì những gì của Đức Chúa Trời mà mắt trần không thấy được, kể cả quyền năng vĩnh cửu lẫn thần tính của Ngài, thì từ thuở sáng tạo vũ trụ đã được thấy rõ nhờ nhận thức về các tạo vật, nên họ không còn cách nào bào chữa được.

Phao-lô không chỉ luận tội họ mà còn trình bày bằng chứng về sự phản bội của họ. Sự từ bỏ việc thờ phượng Đức Chúa Trời không đứng một mình; nó kéo theo những hành vi càng lúc càng suy đồi. Khi họ đổi vinh hiển của Đức Chúa Trời lấy hình tượng do tay người tạo dựng, họ cũng đổi luôn sự tự nhiên mà sa vào sự ô nhục trong tình dục – tức là cách họ tự cho họ có quyền thay đổi trật tự và cách vận hành của tạo vật. Theo lập luận của Phao-lô, hành vi đồng tính luyến ái không phải là nguyên nhân dẫn đến việc bỏ Đức Chúa Trời mà là kết quả của một sự thờ phượng sai trật. Đó là biểu hiện bên ngoài của một tấm lòng đã rời xa Đấng Tạo Hóa. Và chính tại đỉnh điểm của sự suy đồi ấy, lời văn của ông bỗng dừng lại và thốt lên một lời không ai ngờ sẽ xuất hiện trong một đoạn văn đang phơi bày tối tăm của một nhân loại chẳng còn tôn vinh Đấng Sáng Tạo, rằng: “Đấng Tạo Hóa, là Đấng đáng được chúc tôn đời đời, A-men”. Đây không phải là một sự chuyển chủ đề, đó là một phản ứng tự nhiên của một tấm lòng thờ phượng giữa một thế giới chẳng thể tìm thấy sự tôn vinh thờ phượng Đức Chúa Trời nữa. 

Rô-ma 1:24-25

Vì thế theo dục vọng của lòng họ, Đức Chúa Trời đã bỏ mặc họ đắm chìm vào trong sự nhơ nhuốc đến nỗi họ cùng làm nhục thân thể mình với nhau. Họ đổi chân lý Đức Chúa Trời lấy điều giả trá và thờ lạy, phụng sự tạo vật thay vì Đấng Tạo Hóa, là Đấng đáng được chúc tôn đời đời,

A-men.

Khi đặt sự công chính của Đức Chúa Trời bên cạnh sự ô uế của loài người, lời “Amen” của Phao-lô là lời khẳng định của ông chỉ dành cho một mình Đấng Tạo Hoá, Đấng xứng đáng được chúc tụng đời đời. Tiếng “Amen” ấy đứng đối lập hoàn toàn với tiếng nói của nhân loại đang phủ nhận Ngài. Nếu tội lỗi mà Phao-lô đã nêu ra trong phần trước là sự đổi chỗ trong sự tôn vinh phải lẽ, loài người đặt tạo vật thế vào vị trí Đấng Tạo Hóa, thì “Amen” của Phao-lô chính là hành động đặt mọi sự trở lại đúng vị trí: Đức Chúa Trời là Đấng đáng được tôn vinh.

Tiếng “Amen” ấy cũng kết luận rằng mọi người đều phạm tội, mọi người đều đánh mất vinh hiển của Đức Chúa Trời (3:23), và mọi người đều ở dưới cơn thịnh nộ của Ngài (1:18). Vì vậy, khi Phao-lô nói “Đấng đáng được chúc tụng đời đời”, ông không chỉ tôn vinh Chúa, mà còn đặt nền cho chân lý cần thiết: nếu Đức Chúa Trời xứng đáng được tôn vinh đời đời, thì tội lớn nhất của con người chính là không tôn vinh Ngài.

Đó là lý do vì sao, đương khi luận tội người ngoại, khi nói đến sự thờ phượng sai trật của nhân loại, ông không thể không cất tiếng ca ngợi về Đấng Tạo Hóa, và tiếng “Amen” ấy trở thành một lời tuyên xưng bất diệt:

Ngài vẫn mãi là Đức Chúa Trời Công Chính,
Đấng Tạo Hóa, Đấng đáng được tôn vinh đời đời,
bất kể loài người có phủ nhận hay không.



Theo dõi

Hãy theo dõi chúng tôi để có thê nhận thông báo của những bài viết mới nhất.

Tại sao Phao-lô nói chúng ta là con cái Áp-ra-ham?

Tại sao Phao-lô nói chúng ta là con cái Áp-ra-ham?

Kinh Thánh đã nhiều lần nói đến cụm từ “dòng dõi của Áp-ra-ham” hay “con cái Áp-ra-ham”, kể từ lần đầu tiên trong Cựu Ước cho đến những sách sau này của Tân Ước. Nhưng làm sao để một người được gọi là con cái của ông? Liệu rằng con cái của Áp-ra-ham chỉ là những người được sinh ra từ dòng dõi của ông? Hay còn mang một ý nghĩa nào khác?

12 giỏ bánh

12 giỏ bánh

Ý nghĩa của con số “12” này, trước hết cần đặt biến cố vào bối cảnh rộng hơn của thần học Kinh Thánh. Giăng không chỉ thuật lại một phép lạ, nhưng đang trình bày một “dấu lạ” nhằm chỉ về bản chất của Chúa Jesus.