Thuật ngữ
Reconciliation: Sự hoà giải – nghĩa là làm cho trở nên hoà thuận lại hay đem trở lại sự hoà hợp, thiết lập sự bình an giữa hai bên vốn cả đang ở trong tình trạng thù nghịch.
Từ tiếng Anh “reconcile” có nghĩa là làm cho trở nên hoà thuận lại, đem trở lại sự hoà hợp, làm nên sự bình an.
Định nghĩa
Sự hoà giải là một trong những chủ đề trung tâm của Kinh Thánh, bởi nó nói đến việc tội nhân, vốn bị ngăn cách và xa lạ với Đức Chúa Trời vì cớ tội lỗi, được phục hồi lại mối tương giao với Ngài. Công việc này không xuất phát từ phía con người, nhưng hoàn toàn đến từ Đức Chúa Trời, qua điều Ngài đã thực hiện trong Con của Ngài là Chúa Jesus Christ.
Bằng cách nào?
Qua điều mà Đức Chúa Trời đã thực hiện cho con người trong Con của Ngài, Chúa Jesus Christ. Công việc này của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ dẫn đến sự hoà giải của tội nhân đặt đức tin nơi Đức Chúa Trời.
Một cách chính xác theo Kinh Thánh, sự hoà giải là toàn bộ công việc của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ, qua đó con người được đem từ vị trí thù nghịch đến sự hoà hợp và bình an với Đức Chúa Trời.
Thuật ngữ Hy Lạp và ý nghĩa
1. Katallasso / Katallage
Đây là từ chính được sử dụng trong Tân Ước để nói về sự hoà giải.
- Katallasso, động từ.
- Katallage, dạng danh từ.
Rô-ma 5:10
“Vì nếu khi chúng ta là kẻ thù nghịch mà còn được giải hòa với Đức Chúa Trời qua sự chết của Con Ngài thì khi đã được hòa giải rồi chúng ta lại càng sẽ được cứu bởi chính sự sống của Ngài là dường nào.”
2 Cô-rinh-tô 5:18-19
“18Mọi việc này đều do Đức Chúa Trời thực hiện, Ngài là Đấng đã nhờ Chúa Cứu Thế hòa giải với chúng ta và ban cho chúng tôi chức vụ hòa giải. 19Thật vậy, Đức Chúa Trời đã giải hòa với nhân loại trong Chúa Cứu Thế; không còn kể những vi phạm của loài người nữa và giao cho chúng ta sứ điệp giải hòa.”
Từ này xuất phát từ kata - "xuống" và allaso - "thay đổi" hoặc "trao đổi". Do đó, katallasso có nghĩa là "thay đổi từ thù địch hoặc bất hòa sang tình bạn và hòa hợp", hoặc "hòa giải" (Rom. 5:10; 2 Cô-rinh-tô 5:18-19)
Điểm quan trọng cần nhấn mạnh là những từ Hy Lạp vừa được trình bày ở trên nói về sự hoà giải này mang tính một chiều, được thực hiện bởi một người. Con người không đóng góp vào công việc này, nhưng chỉ có thể tiếp nhận hoặc từ chối. Điều này đặc biệt rõ ràng khi so sánh với từ Hy lạp khác cũng được sử dụng cho sự hoà giải là diallasso. Từ "diallasso" đề cập đến một sự hòa giải hai chiều hoặc lẫn nhau - một sự hòa giải phụ thuộc vào công việc của cả hai bên. Diallasso "biểu thị một sự nhượng bộ lẫn nhau sau sự thù địch lẫn nhau, một ý tưởng không có trong katall-.1
Mặc dù katallasso cũng có thể được dùng để chỉ sự hòa giải giữa con người với nhau (1 Cô-rinh-tô 7:11), nhưng việc Kinh Thánh sử dụng cách nhất quán nhóm từ này cho sự hòa giải của tội nhân cho thấy một lẽ thật quan trọng: sự cứu rỗi hoàn toàn là công việc của Đức Chúa Trời, trong đó con người có thể đáp ứng bằng đức tin hoặc khước từ, nhưng không hề góp phần vào tiến trình ấy. Khác với sự hòa giải giữa người với người vốn có thể mang tính hai chiều, sự cứu rỗi không phải là sự hợp tác giữa Đức Chúa Trời và con người, nhưng trọn vẹn, hoàn toàn, là công việc Đức Chúa Trời đã thực hiện qua Con của Ngài là Chúa Jesus (2 Cô-rinh-tô 5:17-19; Rô-ma 5:11).
2. Apokatallasso
Đây là một từ ghép ba (thêm giới từ apo, "từ,"). Nó không xuất hiện trong tiếng Hy Lạp trước đó và dường như được Phao-lô sử dụng để diễn tả ý tưởng về sự hòa giải trọn vẹn (Ê-phê-sô 2:6; Cô-lô-se 1:20-21). Chúng ta có thể dịch nó một cách chính xác là "hòa giải hoàn toàn".2
Cô-lô-se 1:20-21
“20và qua Đức Con giải hòa muôn loài vạn vật với chính mình, dùng huyết Ngài trên thập tự giá đem lại sự bình an cho vạn vật ở dưới đất hay ở trên trời. 21Trước kia, anh chị em đã bị xa cách với Đức Chúa Trời, tâm trí anh chị em thù nghịch với Ngài do công việc ác của mình”
Từ này cho thấy không chỉ là một sự hoà giải tạm thời hay một phần, nhưng là một sự phục hồi trọn vẹn mối tương giao đã bị phá vỡ.
Bản chất của sự hoà giải
Sự hoà giải trình bày việc con người ở trong tình trạng thù nghịch với Đức Chúa Trời.
Tội lỗi không chỉ là sự vi phạm luật pháp, mà còn là sự nổi loạn chống lại Đức Chúa Trời, làm phá vỡ mối tương giao ban đầu giữa con người và Ngài. Vì vậy, con người không chỉ xa cách, nhưng thực sự là kẻ thù nghịch của Đức Chúa Trời (Rô 5:10).
Cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời không phải là cảm xúc bộc phát, nhưng là sự bày tỏ tất yếu của sự thánh khiết Ngài trước tội lỗi. Càng nhận biết sự thánh khiết của Đức Chúa Trời, chúng ta càng thấy rõ sự phản nghịch của chính mình, và vì đó, sự đoán phạt là điều công chính.
Tuy nhiên, Đức Chúa Trời không thể phủ nhận chính bản thể Ngài. Ngài không thể hạ thấp sự công chính để nâng cao tình yêu, cũng không thể bày tỏ tình yêu mà bỏ qua tội lỗi. Chính trong bối cảnh này, sự hoà giải trở thành một công việc vinh hiển, nơi mọi thuộc tính của Đức Chúa Trời được bày tỏ cách trọn vẹn.
Sự hoà giải trong Đấng Christ
Khái niệm về sự hoà giải không bị giới hạn trong từ “reconcile.” Khi Kinh Thánh nói về “sự bình an với Đức Chúa Trời” (Rô 5:1), về Đấng Christ là “sự bình an của chúng ta” (Êph 2:14), và về công việc của Ngài trong việc “thiết lập sự bình an” (Êph. 2:15-17), đó chính là sự hoà giải, công việc của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ nhằm cất bỏ sự thù nghịch và xa cách ngăn cách Đức Chúa Trời và con người.
Kinh Thánh cho thấy sự hoà giải không phải là điều con người dâng lên để làm nguôi Đức Chúa Trời, nhưng là điều Đức Chúa Trời chủ động thực hiện cho con người.
Rô-ma 5:1 - BD2010
“Vì đã trở nên công chính trước Thượng Đế qua đức tin, nên chúng ta hòa thuận lại với Ngài. Đó là nhờ Chúa Cứu Thế Giê-xu”
Ê-phê-sô 2:14 - BD1925
“Vì, ấy chính Ngài là sự hòa hiệp của chúng ta; Ngài đã hiệp cả hai lại làm một, phá đổ bức tường ngăn-cách”
Trong Đấng Christ, Đức Chúa Trời không chỉ cất bỏ sự thù nghịch, mà còn thiết lập sự bình an. Qua sự chết của Chúa Jesus, toàn bộ rào cản giữa Đức Chúa Trời và con người được cất bỏ, bao gồm tội lỗi, sự thánh khiết của Đức Chúa Trời, sự chết, và sự không công chính.
Sự hoà giải không đứng riêng lẻ, nhưng bao hàm các công việc khác của ân điển như sự cứu chuộc (redemption), sự xưng công bình (justification), sự tái sinh (regeneration), và sự làm nguôi cơn thịnh nộ (propitiation). Tất cả hợp lại để hoàn tất một thực tại: con người được phục hồi hoàn toàn trong mối tương giao với Đức Chúa Trời. Chính công việc này làm cho Đức Chúa Trời có thể xưng công bình cho tội nhân tin bởi đức tin trong Đấng Christ, để có sự bình an với Đức Chúa Trời, tức là sự thay đổi mối quan hệ từ thù nghịch sang hoà hợp.
Vì vậy, sự hoà giải không phải là nỗ lực của con người tìm đến Đức Chúa Trời, nhưng là hành động của Đức Chúa Trời tìm đến con người. Chính Ngài đã chủ động cất bỏ sự thù nghịch, thiết lập sự bình an, và mở đường để tội nhân có thể bước vào sự hiện diện thánh của Ngài. Đây không chỉ là một giáo lý để hiểu, mà còn là một sự thay đổi triệt để từ thù nghịch sang hoà hợp, từ xa cách sang hiệp thông, tất cả đều bởi ân điển của Đức Chúa Trời trong Chúa Jesus Christ thông qua đức tin.


