Thuật ngữ
Substitution: Sự thay thế
Định nghĩa
Giáo lý về sự chết thay thế (substitutionary death) của Đấng Christ liên hệ chặt chẽ với sự tẩy uế (expiation). Cũng như sự cứu chuộc (redemption) là phần của sự hòa giải (reconciliation) nhằm giải quyết vấn đề tội lỗi của con người, và sự tẩy uế là phần xử lý khái niệm về hình phạt mà con người phải trả, thì sự thay thế (substitution) hướng đến chính hình phạt cụ thể được đòi hỏi, tức là hình phạt của sự chết.
Bởi sự chết thay thế của Đấng Christ, ý nghĩa là Đấng Christ, là Chiên Con vô tội của Đức Chúa Trời, đã chết và chịu hình phạt của sự chết thay cho tội nhân, là kẻ thực sự có tội. Điều này có nghĩa là Ngài đã đứng vào chỗ của chúng ta và mang lấy hình phạt của sự phán xét từ Đức Chúa Trời mà chúng ta đáng phải chịu.
Thuật ngữ Hy Lạp và ý nghĩa
Có hai giới từ Hy Lạp quan trọng đối với giáo lý này vì chúng được sử dụng trong Tân Ước để chỉ về khái niệm sự chết thay của Đấng Christ.
1. Anti
Về mặt ngữ nghĩa, Anti mang ý nghĩa cơ bản và phổ biến nhất là "thế vào chỗ của" hoặc "thay cho". Trong phương diện của sự thay thế, khái niệm này chỉ về một đối tượng được đặt vào đúng vị trí của một đối tượng khác. Các phân đoạn sau đây minh họa cho cách dùng phổ biến này:
“Khi nghe tin A-khê-lau nối ngôi [thế vào chỗ]1 (anti) Hê-rốt làm vua tại Giu-đê, ông sợ không dám về đó, và được báo mộng, ông đi qua xứ Ga-li-lê.” Ma-thi-ơ 2:22 - BDM
“Có ai trong các ngươi khi con mình xin một con cá mà cho nó một con rắn thay vì (anti) một con cá chăng?” Lu-ca 11:11 - BD2011
Cả hai câu Kinh Thánh trên các tác giả đều dùng anti để chỉ về một sự hoán đổi vị trí trực tiếp.
Với điều này, hãy so sánh hai đoạn song song trong các sách Phúc Âm rõ ràng chỉ về công việc thay thế của Đấng Christ:
Khi chúng ta đem ý nghĩa "sự thay thế" vào trong ngữ cảnh Chúa Jesus tuyên bố mục đích giáng thế của Ngài, chúng ta sẽ có một khái niệm tổng quan hơn vvề công việc thay thế của Đấng Christ trong Tân Ước:
“Ngay cả Con Người đã đến, không phải để được người ta phục vụ mình, nhưng để phục vụ người ta và phó mạng sống mình làm giá chuộc [thay]1 cho (anti) nhiều người.” Ma-thi-ơ 20:28 - BD2010
“Vì Con Người đã đến không phải để được phục vụ nhưng để phục vụ, và hiến dâng mạng sống mình làm giá chuộc [thay]1 cho (anti) nhiều người.” Mác 10:45 - BD2010
Ở đây, anti không chỉ đơn thuần là làm điều gì đó vì ích lợi của người khác, mà là một sự "hoán đổi vị trí" thật sự. Chúa Jesus đã đặt chính mạng sống thánh khiết của Ngài vào đúng vị trí của chúng ta—vị trí của những tội nhân đang đối diện với án phạt. Ngài trở thành "đối tượng thế chỗ thay" vào đúng chỗ mà đáng lẽ chúng ta phải chịu bằng chính linh hồn mình.
2. Huper
Ý nghĩa phổ biến nhất của huper là “vì lợi ích của...”, nhưng nó cũng có thể được dùng như anti để có nghĩa là “thay cho". Huper có thể có nghĩa “thay cho”, các phần Kinh Thánh dưới đây sẽ thể hiện rõý niệm này:
"Tôi muốn giữ người nầy lại với tôi, để thay (huper) anh chăm lo cho tôi trong lúc tôi vì Tin Lành mà chịu xiềng xích." - Phi-lê-môn 13 - BD 2010
Câu Kinh Thánh này cung cấp một minh họa tốt về từ huper có thể được dùng theo nghĩa “thay cho”. Phao-lô viết về Ô-nê-sim, là nô lệ của Phi-lê-môn. Trong trường hợp sứ đồ Phao-lô giữ Ô-nê-sim lại với mình, thì Ô-nê-sim sẽ phục vụ như một sự thay thế cho Phi-lê-môn.
"Vậy, chúng tôi là đại sứ [thay cho]1 (huper) của Đấng Christ, Đức Chúa Trời dùng chúng tôi để khuyên mời. Chúng tôi nhân danh Đấng Christ nài xin anh em hãy làm hòa với Đức Chúa Trời." 2 Cô-rinh-tô 5:20 - BD 2010
Trên thực tế, không có bản dịch nào trong tiếng Việt thể hiện rõ từ này trong bản dịch, nhưng khi tra xét các bản nguyên ngữ Hy Lạp thì sứ đồ Phao-lô đã dùng hụper trong vị trí đã đượcthêm vào ở trên. Tại đây Phao-lô nói về chức vị sứ giả của ông được xem như là thay cho (huper) Đấng Christ 2 như thể Đức Chúa Trời dùng Phao-lô và những người đồng lao với ông khuyên bảo Hội Thánh”. Vì Đấng Christ đã về nhà Cha (Giăng 14:2-3) không còn ở trên đất để giảng Phúc Âm, nên các tín hữu được đặt để trên đất, trong cùng vị trí của Ngài (người rao giảng Phúc Âm cứu rỗi) như những sứ giả và đại diện của Ngài để khuyên bảo thế gian tin vào thân vị và công tác của Đấng Christ.
Sau đây là các câu nơi huper được dùng cho sự chết thay thế của Đấng Christ:
"Nhưng Đức Chúa Trời bày tỏ lòng yêu thương của Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là tội nhân thì Đấng Christ đã chết thay cho (huper) chúng ta." - Rô-ma 5:8. - BD 2010
"Trước hết, tôi đã truyền đạt cho anh em điều chính tôi đã nhận lãnh, ấy là Đấng Christ chịu chết vì [thay cho]1 (huper) tội lỗi chúng ta theo lời Kinh Thánh." - 1 Cô-rinh-tô 15:3. - BD 2010
Đức Chúa Trời đã làm cho Đấng không hề biết tội lỗi trở nên tội lỗi vì [thay cho]1 (huper) chúng ta, để trong Đấng ấy chúng ta được trở nên công chính trước mặt Đức Chúa Trời.
"Nhưng chúng ta lại thấy Đức Giê-su, dù được đặt thấp hơn các thiên sứ một chút, nay lại đội mão hoa vinh quang, danh dự vì Ngài đã chịu chết, để bởi ân sủng Đức Chúa Trời, Ngài chết thay cho (huper) mọi người." - Hê-bơ-rơ 2:9 - NVB
Hê-bơ-rơ 2:9 bày tỏ rằng Đấng Christ đã nếm trải cái chết cho mọi người; và vì hình phạt của con người đối với tội lỗi bao gồm cả cái chết thuộc linh lẫn thuộc thể của toàn thảy nhân loại, nên Đấng Christ đã nếm trải, và dự phần vào cả hai để thay thế cho chúng ta. Khi Chúa Giê-xu kêu lớn: "Đức Chúa Trời tôi ơi, Đức Chúa Trời tôi ơi, sao Ngài lìa bỏ tôi?"3, Ngài đang nói về phương diện pháp lý đối với Đức Chúa Trời như một thẩm phán thánh khiết và công chính, Đấng đã chất tội lỗi của toàn nhân loại trên Ngài, và do đó đã ngoảnh mặt khỏi Con Ngài trong khi Ngài đang gánh tội lỗi chúng ta thay cho chúng ta.
Tại thời điểm này, Đấng Christ đã chết về tâm linh và theo một cách huyền nhiệm, Ngài đã bị trừng phạt trong chính mối quan hệ bình an mà Ngài vốn luôn có với Cha, bởi cớ Ngài đang gánh tội lỗi chúng ta (Ê-sai 53:4-11; 2 Cô-rinh-tô 5:21). Sau những giờ tăm tối trên thập tự giá, Đấng Christ đã kêu lên "Xong rồi"4, nghĩa là công tác cứu chuộc của Ngài đã hoàn tất, Ngài đã gánh xong tội lỗi chúng ta. Sau đó Ngài gục đầu, trút linh hồn và chết về phần xác. Qua sự chết của Ngài trên thập tự giá, Ngài đã trả xong hình phạt cho toàn nhân loại và Ngài đã trở thành Đấng thay thế chúng ta và làm cho chúng ta trở nên được chấp nhận trong vị trí của Ngài. Nói một cách dễ hiểu, nếu Chúng ta trong phương diện là một tội nhân được Đấng Christ thế chỗ hầu cho chúng ta được trở về với Đức Chúa Trời, thì trong cùng phương diện chúng ta được thế ngược vào vị trí của Đấng Christ trong việc được Đức Chúa Trời chấp nhận.
Bản chất của sự thay thế
Trong toàn bộ dòng chảy của Kinh Thánh, cái chết của Đấng Christ được bày tỏ như một của lễ vẹn toàn vì tội lỗi của cả thế gian. Vì vậy, khởi đầu của Phúc Âm, Giăng Báp-tít đã giới thiệu Jesus thành Na-xa-rét với những lời như sau: “Kìa Chiên Con của Đức Chúa Trời, Đấng cất tội lỗi của thế gian đi” (Giăng 1:29). Tuyên bố này như là một khẳng định cũng như là một tiên tri gần dành riêng cho Đấng Christ nhập thể của chúng ta.
Chúa Jesus trong sự chết của Ngài thực sự là Đấng thay thế, chết thay cho tất cả loài người. Mặc dù cụm từ “Đấng thay thế” không phải là một từ cụ thể trong Kinh Thánh, nhưng ý niệm rằng Đấng Christ là Đấng thay thế của tội nhân được khẳng định liên tục trong Kinh Thánh. Bởi sự chết thay thế của Ngài, những sự phán xét công bình của Đức Chúa Trời trên tội nhân đã được Đấng Christ mang lấy lên trên mình Ngài. Kết quả của sự thay thế này vừa đơn giản vừa rõ ràng như cách một tội nhân trong cương vị là một nô lệ được mua chuộc về. Và sự chết thay thế của Ngài đã trở nên một của lễ đẹp lòng và làm thoã mãn cũng như đã xoa dịu hay nói cách khác là làm nguôi cơn giận của Đức Chúa Trời. (xem thêm: Sự xoa dịu là gì?)


